Ngày 16 tháng 01 năm 2011

Một thoáng văn hóa hành thiện

Tôi đi chùa đã nhiều, chiêm ngưỡng cảnh Phật cũng nhiều, nhưng đến chùa Keo Hành Thiện lại mang một cảm giác khác, suy nghĩ khác, nhất là được nghe những chuyện kể về vị Thiền Sư Dương Không Lộ - người có học vấn uyên thâm về Phật Pháp và đã tu luyện thành thần tiên và còn bao nhiêu chuyện lạ về ông... càng nghe càng kính phục, càng ngưỡng mộ về con người huyền thoại này.

52e17d3dcc
GS Vũ Khiêu giới thiệu về lịch sử dòng họ Đặng - Vũ

TỪ ĐƯỜNG HỌ ĐẶNG - VŨ

Chúng tôi nhận lời mời của GS anh hùng lao động Vũ Khiêu về dự lễ khánh thành nhà từ đường của một chi họ Đặng Vũ ở làng Hành Thiện. Đây là một làng cổ nổi tiếng, nơi đã sinh ra cố Chủ tịch nước, cố Tổng Bí thư Trường Chinh và cũng là nơi sinh ra nhiều danh nhân văn hóa họ Đặng Vũ, trong đó có GS Vũ Khiêu, người anh hùng lao động uyên bác vào bậc nhất, cũng là người trí thức cao niên nhất, hiện còn khoẻ mạnh dù đã 94 tuổi đời.

Sau hai tiếng đồng hồ vượt 130 cây số đường trường, chúng tôi đã đến điểm tập kết - UBND Huyện Xuân Trường, một huyện đường to đẹp không kém gì một số tỉnh đường khác. Tiếp chúng tôi là Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định Trần Minh Oanh, cùng bí thư, chủ tịch huyện Xuân Trường. Tất cả đều nhiệt tình mến khách, thể hiện rõ phong cách con người đất thành Nam. Chúng tôi được nghe Chủ tịch Trần Minh Oanh nói về niềm tự hào của vùng đất khu 3 nói chung và Nam Định nói riêng, nơi mà trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, nơi mà đã có hàng triệu người tham gia ở các chiến trường miền Bắc cũng như miền Nam, cũng là nơi khởi nghiệp của vương triều Trần với hào khí Đông A... Nam Định, đất Văn hiến ngàn năm, cái rốn của văn hoá sông Hồng, có Phủ Thiên Trường với biết bao danh lam thắng cảnh, danh nhân nổi tiếng, nơi có nghệ thuật chèo, có múa rối nước, ca trù, hát chầu văn, múa lục cúng và có cả nghệ thuật hiện đại nữa.

Chúng tôi tiếp tục đến làng Hành Thiện cách cơ quan huyện Xuân Trường sáu cây số. GS Vũ Khiêu ra tận cưả đón khách. Ngôi nhà từ đường thuộc một chi họ Đặng - Vũ vừa mới được khôi phục lại theo kiểu dáng cũ, gồm hai gian, hai chái và một sân rộng, cây cỏ xanh tươi. Gian bên trái là thờ một nhà nho yêu nước, Cụ cử nhân Đặng Vũ Lễ người đã đào tạo rất nhiều học sinh theo cụ Phan Bội Châu sang Trung Quốc và Nhật Bản. Gian bên phải là phòng lưu niệm di vật của những người con yêu nước của Cụ, đặc biệt là con rể Cụ, là nhà cách mạng Phạm Tuấn Tài, người cùng Nguyễn Thái Học sáng lập ra Quốc dân Đảng, sau trở thành liệt sỹ cộng sản. Gian naỳ cũng đồng thời là nơi lưu giữ những kỷ vật và tài liệu quý của GS Vũ Khiêu.

Buổi lễ khánh thành nhà truyền thống của chi họ được tiến hành gọn nhẹ và trang nghiêm, sau lễ dâng hương, GS Vũ Khiêu nói về lịch sử dòng họ Đặng Vũ mà ông Tổ là gốc họ Vũ và con nuôi họ Đặng. Đây là sự ghép hai họ Vũ và họ Đặng để ghi ân của người sinh và người dưỡng, một cách làm hơi khác lạ, nhưng lại thể hiện được truyền thống văn hoá Việt:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

THĂM CHÙA KEO HÀNH THIỆN

Nói đến Hành Thiện là nói tới chùa Keo, di tích văn hoá được toàn quyền Đông Dương liệt vào “cổ tự” (1952) và được Bộ văn hoá Việt Nam dân chủ Cộng hoà xếp hạng quốc gia từ năm 1962. Đây là ngôi chùa cổ vào bậc nhất được xây dựng từ thời Lý và cũng có nhiều cái nhất về kiến trúc, truyền thuyết, về tính thiêng liêng và huyền thoại ly kỳ... Vì thế mà giáo sư khuyên chúng tôi nên đi thăm chùa Keo.

Ông trưởng ban quản lý di tích đã cao niên nhưng còn nhanh nhẹn và nhiệt tình đưa chúng tôi đi thăm chùa. Keo cách đó chừng hơn một cây số. Ông cho biết: Trên đầu tư cho chùa hai tỷ đồng để trùng tu toàn bộ Tháp Chuông và hai dãy hành lang. Công việc đang gấp rút hoàn thành cho kịp ngày khai mạc lễ hội vào 15 tháng 8 ÂL. Ông giải thích: Chùa Keo còn gọi là chùa Thần Quang (Thần Quang Tự), chùa được xây dựng từ thời Lý nhưng năm tháng vật đổi sao dời, thiên tai tàn phá nên chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu phục dựng như bài ký trùng tu đã ghi:
Phía trước dùng xà giang chầu vào bao la vạn khoảnh
Phía sau sông Hoàng Giang vòng lại bát ngát ngàn tầm
Bể Nam Hải uốn quanh từng khúc phô hình dải lụa xanh
Dãy rừng cây tua tủa vươn cao như búi tóc mây sắc lục

Thiên tai tàn phá, thậm chí dạt cả một bộ phận người làng Dũng Nhuệ sang bên kia sông Hồng về đất Vũ Thư Thái Bình để sau đó họ lại xây dựng một chùa Keo khác thành “Chùa Keo Dũng Nhuệ” và đều thờ chung một vị thánh Không Lộ, tức Khổng Minh Không. Từ xa đã nhìn thấy chùa Keo Hành Thiện được xây dựng trên một khu đất rộng mênh mông, cảnh quang thật đẹp như bài minh trên bia chùa Thần Quang đã mô tả:

Biển xanh ở phía Đông
Sông Hồng quanh phía Bắc
Phía Nam sông bao bọc
Nước lững lờ chảy quanh
Phía Tây núi dựng thành
Rừng xanh xanh trùng điệp.

Cảnh chùa thật hùng vĩ và hữu tình không chê vào đâu được.

Chùa Keo xây theo luật Tiền Phật, Hậu Thánh. Toà phía trước thờ Phật, toà phía sau thờ Thánh, hai dãy hành lang tả hữu kéo dài hàng trăm mét nay được dỡ ra làm mới hoàn toàn bằng gỗ lim vàng óng.

Trước khi bước vào nội thất ngôi chùa, ta được chiêm ngưỡng gác Chuông cao tầm 8 mét, với 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng có chạm khắc hoa văn cánh sen nở, thể hiện cái kỳ vĩ của một công trình Phật giáo có một không hai. Gác chuông này cũng đang được trùng tu cho đồng bộ với hai dãy hành lang, chắc chắn sẽ làm thoả mãn khách hành hương trong kỳ lễ hội chùa Keo năm nay và những năm tới. Nối tiếp với Tháp Chuông là một không gian rộng lớn nơi bày những hiện vật như voi, ngựa, kiệu các loại, thuyền bơi chải để phục vụ lễ hội bên ngoài chùa.

Bước vào toà Tam Bảo, tôi thật sự kinh ngạc trước những pho tượng Đức Di Đà, Quan Thế Âm Đế Chí, tượng vua Đế Thích, rồi tượng Ngọc Hoàng, Bắc Đẩu Nam Tào, tượng Hộ Pháp... Tiếp theo là tầng tầng lớp lớp tượng Phật thật sinh động và uy nghiêm, nhất là khi có tiếng chuông chùa rung lên đâu đó và ngân vang trong cảnh hoang tịch thiêng liêng thì người ta cảm thấy như các pho tượng đang “nói chuyện” với mình...
Tôi đi chùa đã nhiều, chiêm ngưỡng cảnh Phật cũng nhiều, nhưng đến chùa Keo Hành Thiện lại mang một cảm giác khác, suy nghĩ khác, nhất là được nghe những chuyện kể về vị Thiền Sư Dương Không Lộ - người có học vấn uyên thâm về Phật Pháp và đã tu luyện thành thần tiên và còn bao nhiêu chuyện lạ về ông... càng nghe càng kính phục, càng ngưỡng mộ về con người huyền thoại này.

Cảm ơn giáo sư, anh hùng LĐ Vũ Khiêu, người con ưu tú của Hành Thiện đã tạo cho tôi cơ hội được đến với mảnh đất địa linh nhân kiệt, được nghe, được nhìn những gì về quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ về di tích văn hoá, về con người văn hoá Hành Thiện nổi tiếng từ xưa.

LỄ HỘI Ở XUÂN TRƯỜNG NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA

Lễ hội ra đời và tôn tại liên tục trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt. Lễ hội là hình thức sinh hoạt van hóa phổ biến của họ. Trong tính nguyên hợp của nó, Lễ hội dân gian vừa là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng thần linh, vừa là hoạt động vui chơi giải trí, là sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất. Trong lịch sử nhân loại, Lễ hội là hoạt động mang tính phổ biến, đa dạng và có từ rất lâu. Hầu như quốc gia dân tộc nào, vùng miền nào cũng có lễ hội. Nó gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc và trong quá trình đó, lễ hội trở thành nhu cầu không thể thiếu của con người và cộng đồng. Xét trên giá trị tinh thần, lễ hội là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội; là một trong những hoạt động nhằm thực hiện giao lưu hội nhập kinh tế - van hóa giữa các cộng đồng quốc gia dân tộc.

Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, để bảo tồn, phát huy và phát triển lễ hội – Một di sản văn hóa tiêu biểu của Việt Nam là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng.

Xuân Trường vốn được mệnh danh địa linh nhân kiệt của tỉnh Nam Định. Truyền thống lịch sử văn hóa kinh tế từ đời này sang đời khác đã để lại những giá trị rất giàu nhân văn. Trong đó, hoạt động lễ hội là một phần không thể thiếu ở các trung tâm cộng đồng làng, xã. Theo thống kê bước đầu, chưa đầy đủ, Xuân Trường hiện có hàng chục lễ hội lớn, nhỏ diễn ra trong năm, nhưng tập trung chủ yếu vào mùa xuân. Điển hình là các lễ hội truyền thống: Đền Ngọc Tiên (xã Xuân Hồng) vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, dân làng mở hội kỷ niệm thành hoàng và thần tổ Quảng Công khao quân trước khi lên đường đi bình giặc Chiêm Thành ở Phương Nam. Trong lễ hội có các trò chơi “địch thủy”, “địch hỏa” và trò nấu cơm thi.




Đền Xuân Bảng – thị trấn Xuân Trường thường được tổ chức từ ngày 10/2 âm lịch đến ngày 13/4 âm lịch. Hoặc Đình Ngọc Tỉnh thờ thần Nam Hải Phạm đại vương (An Dương Vương) – Đình còn lưu 20 đạo sắc phong của các triều Lê – Tây Sơn. Đình là nơi dân làng tổ chức lễ hội vào ngày 10 – 12/2 âm lịch hàng năm. Tiếp đó đến các đền: Đền Thủy tổ Đỗ Phúc Hữu; Đền Liêu Đông; Các chùa, có: Chùa Kiên Lao – Sùng Phúc Tự; chùa Keo – hành Thiện. Hoặc ngay những hoạt động tại nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh – Hành Thiện, đất học Xuân Trường. Những lễ hội đã góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh cho nhân dân.

Nhiều nhất là các tướng lĩnh có công đánh giặc cứu nước, như Đền An Cư (xã Xuân vinh) thờ 3 vị phúc thần có công đánh giặc cứu nước – đó là Nam Hải Đại Vương; Linh Lang Đại Vương; Dương Cảnh Thành Hoàng Phúc Diễn tôn thần; Đền An Đạo (Xuân tân) thờ Dũng quân công tướng quân Trần Cương Nghị, ông đã giúp Lý Thường Kiệt đánh tan quân Chiêm Thành.

Lêc hội Xuân Trường cũng là những ngày hội kỷ niệm các danh nhân có công với nước, với cộng đồng làng xã quê hương, trên các lĩnh vực: Chiêu dân, lập ấp, dạy dân cấy cày làm ăn, xây dựng làng xóm, quốc gia dân tộc, tổ chức cuộc sống cộng đồng mở mang nghề nghiệp, phát triển kinh tế - văn hóa, sáng tạo nghệ thuật. Đó là các lễ hội: Đền Xuân Hy (Xuân Thủy) thờ người có công dựng cùng ấp xóm, Đền – Chùa Kiên Lao (Xuân Kiên). Đền Xuân Bảng, Đình làng Ngọc Tỉnh.

Nơi diễn ra các hoạt động Lễ hội hầu hết là những nơi thờ các danh nhân lịch sử - văn hóa. Đó là đền, đình chùa… Tại các địa điểm này, làng xã coi là “địa linh”, từ xa xưa nhân dân đã xây dựng các công trình kiến trúc uy nghi cổ kính để thờ các danh nhân, ghi nhớ các sự kiện và công lao của các danh nhân do các triều vua phong kiến ban sắc phong để nhân dân tôn thờ lưu giữ. Các công trình đình, đền, chùa đều được xây dựng rất công phu, quy mô to lớn, đắp, vẽ, chạm khắc rất tài nghệ tinh xảo. Đặc biệt, bên trong được bày đặt trang trí những tượng, đồ thờ tự rất uy nghiêm, thể hiện sự tôn kính của nhân dân. Những đồ thờ tự vừa có giá trị tâm linh, giá trị nghệ thuât, đồng thời còn là nguồn sử liệu quý giá về các sự kiện lịch sử, về cuộc đời và sự nghiệp của các danh nhân, như tượng thờ, thần tích, sắc phong, bia đá, chuông đồng, các câu đối, đại tự, địa danh, truyền tích được lưu giữ trong các nguồn văn tự cổ, trong trí nhớ của nhân dân địa phương.

Hoạt động lễ hội là biểu hiện phong phú và sinh động nhất nội dung lịch sử và ý nghĩa giáo dục truyền thống của lễ hội. Hoạt động này gồm phần lễ và phần hội hầu hết tập trung ở phần lễ, mang ý nghĩa tâm linh, thể hiện sự sùng bái, ngưỡng vọng, nhớ ơn của cộng đồng với danh nhân được tôn thờ.


Thông qua hoạt động lễ hội đã giúp cho mọi người trong cộng đồng và đông đảo quý khách tới dự hội, hồi tưởng những sự kiện lịch sử đã qua, công lao, sự nghiệp của các danh nhân, lịch sử văn hóa, qua đó bồi dưỡng truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” “Ăn quả nhớ người trồng cây”, bồi dưỡng lòng tự hào về truyền thống lịch sử - văn hóa quê hương, đất nước, tăng cường ý thức trách nhiệm bảo tồn và phát huy truyền thống cho mọi người, mọi thế hệ trong cộng đồng. Có thể nói, hoạt động lễ hội ở các làng xã là một phương thức giáo dục lịch sử truyền thống hết sức đặc biệt độc đáo, cuốn hút hàng nghìn, hàng vạn lượt người tham gia, được lặp đi lặp lại định kỳ hàng năm, khiến cho nội dung lịch sử và giá trì truyền thống được phổ biến liên tục và sâu rộng tới mọi tầng lớp mọi thế hệ cộng đồng dân cư; Chính nhờ đó, truyền thống lịch sử - văn hóa của quê hương, đất nước, gia đình, dòng họ và cộng đồng được bảo tồn phát huy. Lễ hội, vì thế trở thành hoạt động xã hội mang nội dung lịch sử văn hóa, đáp ứng nhu cầu cần tìm về cội nguồn của mỗi người và cả của cộng đồng làng xã.

Duy trì những nét sinh hoạt văn hóa, lễ hội – chính là dịp để ôn lại lịch sử, truyền thống, bồi đắp tình cảm của mỗi con người quê hương đất nước, đối với tổ tiên nòi giống và thắt chặt quan hệ tình nghĩa cộng đồng. Chiêm ngưỡng những sắc màu văn hóa truyền thống của quê hương ta thấy yếu tố thiêng liêng không chỉ hiện hữu trong nghi thức tế lễ thần linh, mà còn là cảm hứng xuyên suốt các trò chơi, điệu múa, bài ca, tiếng nhạc trong ngày hội, tạo nên chiều sâu rung cảm và lay thức của nó, là cơ sở cho sức sống trường tồn.

St by Thanh Vỵ

Giáo sư Vũ Khiêu: Trọn một đời sáng trong cầm bút

Giáo sư Vũ Khiêu nguyên Viện trưởng Viện Triết học, nguyên Phó chủ nhiệm UBKHXHVN, Anh hùng Lao động. Ông hoạt động rộng khắp các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn. Ông sống đạm bạc, rất nhiệt tình và lịch lãm theo phong cách của một trí thức phương Đông.

Có nhiều câu chuyện đáng nhớ về ông.

Theo như lời GS.TS Hoàng Chương kể lại, một lần GS Vũ Khiêu đến thăm ngôi đình Ngọc Động ở xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm. Sau khi tìm hiểu kỹ về lịch sử và kiến trúc ngôi đình, GS Vũ Khiêu về nhà viết ra một bài phú rất hay, nói lên truyền thống lịch sử của nhân dân Đa Tốn gắn liền với ngôi đình thờ những danh tướng thời Hai Bà Trưng có tuổi đời bảy, tám trăm năm.

Hôm xã tổ chức đón bằng xếp hạng di tích quốc gia của ngôi đình, có Bộ trưởng Bộ Văn hóa Trần Văn Phác dự, GS Vũ Khiêu đã đọc bài phú dài gần trăm câu, gây xúc động hàng ngàn người dự. Bài phú về đình Ngọc Động của GS Vũ Khiêu viết đã được Đảng ủy Đa Tốn in trong quyển lịch sử của xã và phát cho toàn dân để tự hào về quê hương mình.

Tấm lòng ấy đã làm cho cán bộ và nhân dân Đa Tốn hết sức nể trọng đối với một nhà trí thức, một nhà thơ uyên thâm, luôn sống vì mọi người, lấy việc phục vụ cho con người làm niềm vui và mục đích sáng tạo.

Nói tới thể Phú của GS Vũ Khiêu cũng là tác giả bài phú Giỗ tổ Vua Hùng được nghệ sĩ Nhân dân Lê Tiến Thọ đọc trong quốc lễ Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10/3/2000 đã gây xúc động hàng triệu trái tim. Cũng qua đây, giới sáng tác văn học thơ ca cổ điển suy tôn GS Vũ Khiêu như một bậc thầy về thể Phú bởi lẽ từ Cách mạng Tháng 8/1945 đến nay, GS Vũ Khiêu vẫn đi đầu trong thể loại đặc biệt này, nhất là thể hiện đề tài về lịch sử, về văn hiến dân tộc.

ấn tượng về GS Vũ Khiêu ngày càng sâu đậm trong ký ức của nhiều người, giữa năm 2001 GS Vũ Khiêu đến TP Huế tham gia Hội thảo Khoa học “Tuồng cung đình”. Tại đây ông tham gia chủ trì và đọc một tham luận rất có giá trị về mặt lịch sử và triết học. Nhưng ý kiến của ông tuy không đi sâu vào đặc trưng nghệ thuật tuồng nhưng lại cố tình gợi mở cho việc nghiên cứu nghệ thuật tuồng cung đình.

Và mới đây nhất tháng 7/2006, GS Vũ Khiêu dự hội thảo khoa học “ảnh hưởng của đạo Phật trong âm nhạc dân tộc.” Đây là hội thảo lớn có hàng trăm giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu và văn nghệ sĩ trong nước và nước ngoài tham dự, GS Vũ Khiêu đã đọc tham luận phát hiện được những nét đặc sắc của đạo Phật trong âm nhạc dân tộc.


Hầu hết những người có mặt trong Hội thảo đã ngạc nhiên và nể phục ở sức khỏe và kiến thức uyên thâm của vị GS Anh hùng đã ngoài 90 tuổi mà vẫn ngồi liền 2 buổi trên ghế chủ tọa, vẫn dõng dạc và sắc sảo trong nhận xét các tham luận, cũng như trả lời đầy thuyết phục các câu chất vấn của một số nhà nghiên cứu và giới báo chí tại Hội thảo này.

Đối với ông, thực tế là nguồn năng lượng sống, là kiến thức vô cùng cần thiết đối với người nghiên cứu và sáng tác. “Chủ nghĩa tháp ngà” là kẻ thù đối với ông.

Tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống, yêu đồng nghiệp thể hiện rất rõ ở vị GS này. GS Vũ Khiêu là một người sống hết mình vì mọi người và đàm đạo thơ văn, nhạc họa rất sôi nổi. Ông thường trổ tài ứng tác câu đối và viết thư pháp để tặng cho mọi người.

Bằng tay bút vừa chắc nịch vừa uyển chuyển của vị lão sư cao niên đã vẽ lên trên nền giấy dó những họa chữ rất đẹp để làm kỷ niệm cho những ai có may mắn được GS trao tận tay. GS Trần Văn Khê đã mang câu đối của GS Vũ Khiêu tặng, về treo ở chỗ trang trọng trong tư thất ở Paris (Pháp). Còn thi sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương không những treo câu đối tại tư gia mà còn in vào những quyển sách của mình.

Nói chung ở lĩnh vực nào - văn hóa hay nghệ thuật, lịch sử, triết học hay thơ ca, GS Vũ Khiêu đều tỏ ra thông tuệ và uyên thâm. Càng gần ông càng thấy ở ông tỏa sáng trí thức tổng hợp và cốt cách của một lão thực. Ông thật xứng đáng là một GS Anh hùng Lao động như Nhà nước đã tôn vinh.

Tiểu sử Giáo sư Vũ Khiêu:

Giáo sư Vũ Khiêu sinh ngày 19 tháng 9 năm 1916 tại làng Hành Thiện xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. Ông được thừa hưởng truyền thống hiếu học của dòng họ Đặng Vũ, một gia tộc thuộc họ Vũ Việt Nam[1], ở làng Hành Thiện (Nam Định). Vùng quê ông tuy nghèo nhưng hiếu học có nhiều người đỗ đạt cao (như tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, ...), là quê hương của nhà cách mạng Trường Chinh.

Sau khi tốt nghiệp tại trường trung học thời thuộc Pháp, ông đã bền bỉ nghiên cứu văn hóa Đông Tây, từ cổ đại đến hiện đại. Với vốn kiến thức được tích lũy trong suốt cuộc đời, ông trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa lớn.

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được điều động làm công tác tuyên huấn ở Khu 10, rồi Khu Việt Bắc, Tây Bắc, trực tiếp có mặt tại tiền tuyến từ chiến dịch Biên giới năm 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong thời gian này, ông đã tập hợp được và cùng làm việc với các văn sĩ trí thức nổi tiếng như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Xuân Khoát, Thế Lữ, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ, Bùi Công Kỳ, Vũ Hoàng Địch, Trần Dần... Sau năm 1954, ông chuyển dần từ công tác tuyên huấn sang làm công tác nghiên cứu. Ông cũng tham gia giảng dạy triết học và lý luận khoa học xã hội cho các trường Đảng và các trường đại học. Năm 1959, ông làm Thư ký khoa học xã hội của Ủy ban Khoa học Việt Nam, sau đó được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học, là người đặt nền móng cho sự phát triển của ngành xã hội học ở Việt Nam.

Từ năm 1958, ông đã viết gần 30 cuốn sách và tham gia biên soạn với tập thể chừng 30 cuốn nữa ở nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, nghiên cứu và giới thiệu thơ văn và cuộc đời của một số thi hào... Các tác phẩm của ông về vấn đề văn hóa gồm: Đẹp (1963), Anh hùng và nghệ sĩ (1972), Cách mạng và nghệ thuật (1979). Tác phẩm lớn nhất là bộ sách ba tập, dày gần 1.500 trang, cuốn Bàn về văn hiến Việt Nam.

Những năm tháng đã 80 tuổi đời (thập niên 90 của thế kỷ 20), giáo sư Vũ Khiêu vẫn dành từ 8 ÷ 10 giờ mỗi ngày để nghiên cứu về Nho giáo: Tứ thư, Ngũ kinh của Khổng Tử, Mạnh Tử. Năm 1996, giáo sư được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I ngày 10 tháng 9.

Cuộc đời và sự nghiệp cố Tổng bí thư Trường Chinh

Trường Chinh (1907–1988) là một nhà cách mạng và chính trị gia của Việt Nam. Ông đã giữ các chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam như Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam (là nhân vật duy nhất hai lần giữ chức Tổng Bí thư), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Ông còn là một nhà thơ với bút danh Sóng Hồng.
 
Trường Chinh (1907-1988)

Thân thế

Ông tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907, ở thôn Hành Thiện, huyện Xuân Trường ,tỉnh Nam Định. Thân phụ ông là cụ Đặng Xuân Viện, là một nhà nho không thành đạt trong đường khoa bảng, là một thành viên trong nhóm Nam Việt đồng thiên hội, là người biên soạn bộ Minh đô sử (gồm 100 quyển đóng thành sách).
 
Do truyền thống gia đình, được sự giáo dục của thân phụ, từ nhỏ, ông đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Đường và được đào tạo bài bản về văn hóa và lịch sử theo truyền thống Nho học. Khi lớn lên, ông bắt đầu tiếp xúc Tây học và theo học bậc Thành chung tại Nam Định.

Tham gia hoạt động cách mạng

Chịu ảnh hưởng tinh thần yêu nước của thân phụ, từ năm 1925, khi còn là còn học ở bậc Thành Chung, ông đã tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu, lãnh đạo cuộc bãi khóa ở Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh. Năm 1926, ông bị trường đuổi học.

Năm 1927, ông chuyển lên Hà Nội, tiếp tục học ở trường Cao đẳng Thương mại và tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1929, ông tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ và trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của đảng này.

Năm 1930, ông được chỉ định vào Ban tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm này, ông bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù và đày đi Sơn La, đến năm 1936 được trả tự do.

Giai đoạn 1936–1939, ông là Xứ Ủy viên Bắc Kỳ, đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Ủy ban Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, ông được cử làm chủ bút báo Cờ giải phóng, cơ quan của Xứ ủy Bắc Kỳ, kiêm phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như Le Travail, Rassemblement, En Avant và báo Tin tức.

Trở thành nhà lãnh đạo chủ chốt

Tại Hội nghị Trung ương 7 họp tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 11 năm 1940, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được cử làm Quyền Tổng Bí thư Đảng thay Nguyễn Văn Cừ.

Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương 8 họp tại Cao Bằng, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm Trưởng Ban tuyên huấn Trung ương. Năm 1943, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.

Tháng 3 năm 1945, ông triệu tập và chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị nổi tiếng "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định thời cơ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị Cách mạng tháng Tám 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng, ông được cử phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc.

Cuối năm 1945, nhằm mục đích tránh những bất lợi về chính trị và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong chỉ đạo phong trào Việt Minh, Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật nên tuyên bố tự giải tán, chuyển thành Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương do ông làm Hội trưởng.

Khi cuộc cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, để xác định mục tiêu và cổ vũ tinh thần cho những người kháng chiến, ông đã viết loạt bài báo nổi tiếng với tựa đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, đăng trên báo "Sự thật" từ số 70 (4 tháng 3 năm 1947) đến số 81 (1 tháng 8 năm 1947). Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: "Bác Hồ là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng đề ra đường lối cụ thể, chỉ đạo cụ thể về lý luận với cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi, là do anh Trường Chinh".

Năm 1951, tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng, [đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam], ông được bầu lại vào Ban chấp hành Trung ương và giữ chức Tổng Bí thư cho đến tháng 10 năm 1956.

Năm 1958, ông được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Đến năm 1960, ông lại được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị. Cũng trong năm này, ông được Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bầu làm Chủ tịch Quốc hội và đến năm 1976, giữ chức vụ này trong Quốc hội Việt Nam thống nhất cho đến năm 1981.

Năm 1981, ông được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ngày 14 tháng 7 năm 1986, tại Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam thay cho Lê Duẩn vừa mất.

Tháng 12 năm 1986, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, ông rút khỏi các chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước và được cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Ông được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương khác. Ông qua đời ngày 30 tháng 9 năm 1988 do tai nạn bất ngờ, thọ 81 tuổi.

Không chỉ là một nhà chính trị, ông còn là một nhà văn nhà thơ với nhiều tác phẩm nổi tiếng.

Một số tác phẩm

* Vấn đề dân cày (viết chung với Võ Nguyên Giáp) (1938);
* Đề cương văn hóa Việt Nam (1943);
* Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (tháng 3 năm 1945);
* Cách mạng Tháng Tám (1946);
* Kháng chiến nhất định thắng lợi (1947);
* Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam (1948);
* Bàn về cách mạng Việt Nam (1951);
* Thơ Sóng Hồng, tập I (1960), tập II (1974).


Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

Giáo sư Vũ Khiêu - người con ưu tú của quê Hương Xuân Trường

Giáo sư Vũ Khiêu, tên thật là Đặng Vũ Khiêu (sinh năm 1916), là một học giả nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).

Tiểu sử

Giáo sư Vũ Khiêu sinh ngày 19 tháng 9 năm 1916 tại làng Hành Thiện xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. Ông được thừa hưởng truyền thống hiếu học của dòng họ Đặng Vũ, một gia tộc thuộc họ Vũ Việt Nam, ở làng Hành Thiện (Nam Định). Vùng quê ông tuy nghèo nhưng hiếu học có nhiều người đỗ đạt cao (như tiến sĩ Đặng Xuân Bảng,...), là quê hương của nhà cách mạng Trường Chinh.

Sau khi tốt nghiệp tại trường trung học thời thuộc Pháp, ông đã bền bỉ nghiên cứu văn hóa Đông Tây, từ cổ đại đến hiện đại. Với vốn kiến thức được tích lũy trong suốt cuộc đời, ông trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa lớn.

Ông tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được điều động làm công tác tuyên huấn ở Khu 10, rồi Khu Việt Bắc, Tây Bắc, trực tiếp có mặt tại tiền tuyến từ chiến dịch Biên giới năm 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong thời gian này, ông đã tập hợp được và cùng làm việc với các văn sĩ trí thức nổi tiếng như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Xuân Khoát, Thế Lữ, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ, Bùi Công Kỳ, Vũ Hoàng Địch, Trần Dần... Sau năm 1954, ông chuyển dần từ công tác tuyên huấn sang làm công tác nghiên cứu. Ông cũng tham gia giảng dạy triết học và lý luận khoa học xã hội cho các trường Đảng và các trường đại học. Năm 1959, ông làm Thư ký khoa học xã hội của Ủy ban Khoa học Việt Nam, sau đó được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học, là người đặt nền móng cho sự phát triển của ngành xã hội học ở Việt Nam.

Từ năm 1958, ông đã viết gần 30 cuốn sách và tham gia biên soạn với tập thể chừng 30 cuốn nữa ở nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, nghiên cứu và giới thiệu thơ văn và cuộc đời của một số thi hào... Các tác phẩm của ông về vấn đề văn hóa gồm: Đẹp (1963), Anh hùng và nghệ sĩ (1972), Cách mạng và nghệ thuật (1979). Tác phẩm lớn nhất là bộ sách ba tập, dày gần 1.500 trang, cuốn Bàn về văn hiến Việt Nam.

Những năm tháng đã 80 tuổi đời (thập niên 90 của thế kỷ 20), giáo sư Vũ Khiêu vẫn dành từ 8 ÷ 10 giờ mỗi ngày để nghiên cứu về Nho giáo: Tứ thư, Ngũ kinh của Khổng Tử, Mạnh Tử. Năm 1996, giáo sư được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I ngày 10 tháng 9.

Danh hiệu

* Giáo sư Vũ Khiêu được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ đợt 1 năm 1996 cho cụm các công trình Anh hùng và nghệ sỹ (1972), Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng và văn hoá (1987), Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử

* Năm 2000, giáo sư được phong danh hiệu Anh hùng lao động thời đổi mới.

* Ngày 12 tháng 9 năm 2006, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thay mặt Hội đồng Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất cho Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu vì có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp phát triển khoa học xã hội và nhân văn, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những bậc đại khoa trong các triều đại phong kiến Xuân Trường

Kể từ tháng 3 năm 1075 Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Nho học đầu tiên của nước ta cho tới khoa thi Hội cuối năm Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định thứ 4 (1919), nước ta có 2.898 vị đỗ Đại Khoa (đỗ chính thức ở Khoa thi Hội). Con số trên vẫn còn thiếu, vì một số khoa thi Hội sách sử chỉ ghi chép tên Khoa thi nhưng không ghi tên người đỗ.

Tỉnh Nam Định có 83 vị đỗ Đại Khoa, trong đó huyện Xuân Trường có 9 vị: Dưới các triều đại Phong kiến Việt Nam, muốn đỗ đạt cao, nho sinh phải trải qua ba khoa thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Có đỗ ở kỳ thi Hương thì mới được thi Hội.


Thi Hương: được tổ chức ở nước ta từ năm Quang Thái thứ 9 (1396) đời vua Trần Thuận Tông. Mỗi khoa thi Hương thí sinh phải trải qua 4 kỳ:

Kỳ thứ nhất: Thi Kinh nghĩa.
Kỳ thứ hai: Thi văn chế, văn chiếu và văn biểu.
Kỳ thứ ba: Thi thơ Đường luật.
Kỳ thứ tư: Thi Văn sách.
Ai đỗ ba kỳ gọi là tú tài.
Người đỗ bốn kỳ ở khoa thi hương được nhận học vị cử nhân.

Huyện Xuân Trường tính từ khoa thi Hương năm Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813) đến khoa thi Hương cuối năm Ất Mão, Duy Tân thứ 9 (1915), tổng là 102 năm có 72 người đỗ Cử nhân (hầu hết là người Hành Thiện).

Một nửa trong số cử nhân quê huyện Xuân Trường được bổ làm quan từ tri huyện trở lên.

Thi Hội: Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1232 đời vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Ngay từ khoa thi Hội đầu tiên, Triều đình đã chia người đỗ ở khoa thi Hội thành “Tam giáp” (Ba hạng) là Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp.

Sự phân chia như trên được duy trì đến khoa thi Hội cuối cùng (1919); từ khoa thi Hội năm Đinh mùi (1247) bắt đầu đặt danh hiệu “Tam Khôi” gồm: Trạng nguyên; Thám hoa; Bảng nhãn.

Đó là ba người đỗ xuất sắc nhất (theo thứ tự 1, 2, 3) trong số những người đỗ ở khoa thi Hội; Họ thuộc hạng “Đệ nhất giáp”.

Đệ Nhị Giáp là những tiến sĩ sau hạng Tam Khôi; còn gọi là: “Đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân” hay “Hoàng Giáp”.

Đệ Tam Giáp còn gọi là “Đệ tam đồng tiến sĩ xuất thân” bao gồm những tiến sĩ đỗ và đứng hạng thứ 3, sau hạng “Đệ nhị giáp”.

Triều Nguyễn từ khoa thi Hội năm kỉ sửu (1829) – Minh mệnh thứ 10, lấy đỗ thêm những người có số điểm gần sát với hạng “Đệ tam giáp” nhưng tách riêng thành một bảng phụ, gọi là “Phó bảng”. Như vậy học vị “Phó bảng” cũng được chọn đỗ ngay ở kỳ thi Hội, nhưng quyền lợi đãi ngộ không được bằng ngươi đỗ chính thức ở 3 giáp.

Triều Nguyễn không lấy đỗ Trạng Nguyên. Người đỗ đầu ở thi Hương, thi Hội, thi Đình được nhận học vị “Tam Nguyên”. Như tam nguyên Trần Bích San của Nam Định, tam nguyên Nguyễn Khuyến của Hà Nam.

Thi Đình: đây là kỳ thi đặc biệt, thông lệ thi sau thi Hội là chọn được những người đỗ ở “Tam Giáp”. Nhưng có một số khoa thi Hội, giám khảo chọn những nho sinh có bài thi tốt, cho dự kỳ thi Đình, để nhà vua và một số quan cho đỗ ở hạng “Đệ Nhất Giáp”.

Từ những tiêu chí trên, xin giới thiệu những vị quê Xuân Trường đỗ Đại Khoa trong chế độ phong kiến.
. Đào Minh Dương – đỗ khoa thi 1550
. Tiến sĩ Phạm Tráng:

Người làng Dũng Nhuệ xưa thuộc Hành Thiện: Đậu tiến sĩ khoa thi năm Giáp Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời vua Lê Hiền Tông. Làm quan tới chức Lại Bộ Hữu Thị Lang
. Tiến sĩ Phạm Như Giao (1531)

Người làng Cát Xuyên, xã Xuân Thành, 44 tuổi đỗ tiến sĩ Khoa thi năm Giáp Tuất, niên hiệu Sùng Khang 9 (1574) đời vua Mạc Mậu Hợp. Khi nhà Mạc đổ, ông phù nhà Lê, làm quan đến chức Thừa Chính Sứ.
. Phạm Thể Lực – Lạc Quần – đỗ Tiến sĩ khoa thi 1828
. Phó bảng Đặng Kim Toán (1814 – 1881)

Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng; đậu phó bảng năm Mậu Thân, Tự Đức thứ nhất (1848). Được bổ giữ chức Hàn lâm viện Kiểm khảo, sau bổ làm tri phủ Tĩnh gia. Có công lập Tổng Lạc Thiên huyện Giao Thủy nên được thăng chức án Sát Bắc Ninh hạng thị giảng học sĩ. Sau về làm Án Sát Ninh Bình. Rồi Tuần phủ hộ lý Lạng Bình. Năm 1874 làm tri phủ Ninh Bình, sau thăng An Định thống đốc.
 . Phó bảng Đặng Đức Địch

Người làng Hành Thiện xã Xuân Hồng đậu phó bảng khoa Kỷ Dậu, Tự Đức thứ 2 (1849); làm quan tới chức Thượng Thư Bộ lễ; sau xin về nghỉ và dạy học tại quê.
. Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng

Người làng Hành Thiện xã Xuân Hồng. Năm 29 tuổi ông đậu Đệ Tam Giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn, Tự Đức thứ 9 (1856). Được bổ chức Tuần phủ Hải Dương. Năm 1873 Pháp chiếm thành Hải Dương, ông bị cách chức tuần phủ; sau được hồi phục hàm Quan Lộc tự Thiếu Khanh, giữ chức Đốc học Nam Định.
. Phó bảng Nguyễn Âu Chuyên

Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng đậu phó bảng khoa Giáp Thân Kiến Phúc thứ nhất (1884) năm ông mới 28 tuổi. Được bổ làm Bố Chánh Bắc Ninh, hàm Quan Lộc tự khanh.
. Tiến sĩ Đặng Hữu Dương

Người làng hành Thiện xã Xuân Hồng, khoa thi Hội năm Ất Dậu, Hàm Nghi thứ nhất (1885), ông trúng cách nhưng chưa kịp công bố thì kinh thành thất thủ! Tới khoa thi Kỷ Sửu, Thành Thái thứ nhất (1889) ông đậu Đồng Tiến sĩ xuất thân, được bố trí làm Án sát Hà Nội.
. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên

Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng. Đậu tiến sĩ khoa Kỷ Hợi, Thành Thái thứ nhất (1889); Được bổ làm tri phủ Nam Sách, sau cáo quan về nghỉ.
. Phó bảng Phạm Ngọc Thụy

Người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng. Đậu phó bảng khoa thi năm Tân Sửu, Thành Thái thứ mười ba (1901). Gia đình Phó bảng Phạm Ngọc Thụy có bốn người: cha con chú cháu, anh em đều đỗ cử nhân.
St by Thanh Vỵ

Trường THPT Xuân Trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3

TRƯỜNG THPT XUÂN TRƯỜNG – TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

Trường THPT Xuân Trường đóng trên địa bàn xã Xuân Hồng - Quê hương Cố Tổng Bí thư Trường Chinh - một vùng quê giàu truyền thống văn hoá, cách mạng và hiếu học.


Trường được thành lập từ năm học 1961 - 1962 từ trường cấp 2 - 3 Xuân Trường, hiệu trưởng đầu tiên là thầy Trần Thắng ( 1961 - 1967). Trong những năm đầu thành lập, thầy và trò nhà trường đã khắc phục biết bao khó khăn vất vả xây dựng ngôi trường với những dãy nhà cấp 4.

Những năm tháng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, trường đã 2 lần sơ tán tại xã Xuân Thành, thôn Thuỷ Nhai, xã Xuân Thuỷ vào các năm 1965 - 1966 và 1969 - 1972. Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, thực hiện lời Bác Hồ “Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”, thầy và trò nhà trường đã khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Việc dạy tốt và học tốt được duy trì một cách thường xuyên liên tục, vì vậy hàng năm vẫn có hàng trăm học sinh tốt nghiệp ra trường. Thời kỳ này rất nhiều thầy giáo và học sinh đã tạm gác bút nghiên lên đường ra trận, trong đó có nhiều người mãi mãi không trở về như thầy giáo Trần Thế Lộc, anh hùng liệt sĩ Nguyễn Xuân Bắc và nhiều liệt sĩ khác, nhiều người khi trở về trong mình còn mang đầy thương tích.

Từ năm 1975 sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước cùng với sự lớn mạnh của đất nước, trường cấp 3 Xuân Trường đã lớn mạnh và trưởng thành từ 8 lớp ban đầu đến nay trường đã có 39 lớp với trên 1720 học sinh; Cơ sở vật chất của trường ngày càng khang trang hiện đại. Từ trường cấp 3 Xuân Trường huyện Xuân Thuỷ một số thầy cô giáo, cán bộ quản lý đã đi xây dựng thêm các trường Giao Thuỷ, Xuân Trường B và mới đây là trường Xuân Trường C được tách từ phân hiệu của trường.


Trong hơn bốn mươi năm xây dựng và trưởng thành, trường đã đào tạo hàng chục vạn học sinh tốt nghiệp ra trường công tác tại khắp mọi miền của tổ quốc và nước ngoài. Có nhiều học sinh giữ cương vị lãnh đạo ở trung ương và địa phương như các anh :
  • Anh Đinh Thế Huynh - uỷ viên trung ương Đảng, Tổng biên tập báo nhân dân, Chủ tịch hội nhà báo Việt Nam
  • Anh Đoàn Kiển - Nguyên uỷ viên trung ương Đảng, Tổng giám đốc tập đoàn than - khoáng sảnViệt Nam
  • Anh Đặng Chiến - Phó chủ tịch tổng liên đoàn lao động Việt Nam
  • Anh Đỗ Như Đính - Thứ trưởng bộ Thương mại
  • Anh Nguyễn Văn Đạt - Thứ trưởng bộ Kế hoạch đầu tư
  • Anh Nguyễn Đình Khương – Thứ trưởng Bộ Tài chính
  • Anh Nguyễn Công Chuyên - uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban tổ chức tỉnh uỷ Nam Định
  • Anh Phạm Văn Tuyến - Uỷ viên BCH đảng bộ tỉnh Nam Định, Bí thư Huyện uỷ Xuân Trường
  • Anh Trần Quang Minh – Nguyên Phó chủ tịch thường trực UBND huyện Xuân Trường
  • Anh Trần Văn Bủng – Nguyên Phó chủ tịch UBND huyện Xuân Trường.
  • Anh Đặng Ngọc Cường - Phó chủ tịch UBND huyện Xuân Trường…
Hầu hết cán bộ lãnh đạo huyện Xuân Trường hiện nay là học sinh cũ của trường.

Có nhiều thầy cô đã và đang dạy tại trường nguyên là học sinh cũ của trường như : thầy Nguyễn Văn Phiếu, thầy Nguyễn Văn Toản, thầy Hoàng Trọng Sâm, thầy Đỗ Ngọc Hồ, thầy Phạm Đình Chiến, thầy Nguyễn Văn Toàn, cô Phan Thị Thìn, cô Nguyễn Thị Thuý, cô Phạm Thị Thanh Hương, Thầy Nguyễn Tiến Phương…


Có rất nhiều học sinh của trường nay là giám đốc, phó giám đốc các cơ quan trên mọi miền đất nước ...nhiều học sinh cũ của trường nay là Giáo sư, tiến sĩ, là giảng viên các trường đại học, công tác trong các viện nghiên cứu trong và ngoài nước.

Thành tích học sinh giỏi của trường xứng đáng với quê hương hiếu học đúng như câu nói từ xưa: “ Đông Cổ Am - Nam Hành Thiện”. Hàng năm có nhiều học sinh dự thi học sinh giỏi đạt giải cấp Tỉnh, trường liên tục được nhận cờ thưởng giải đồng đội học sinh giỏi. Trường đã có 3 học sinh đạt giải thi học sinh giỏi quốc gia đó là các anh: Đỗ Chí Công xã Thọ Nghiệp Giải Nhì môn Toán toàn miền Bắc, Nguyễn Hữu Hạnh xã Xuân Châu - Giải Ba môn Văn toàn quốc, Đặng Vũ Nam xã Xuân Hồng Giải Ba môn Hoá học toàn quốc, Nguyễn Xuân Thành xã Xuân Hồng giải Ba môn Vật lý toàn quốc nay là tiến sĩ giảng dạy tại trường đại học sư phạm Hà Nội I.


Trường THPT Xuân Trường là một trong những trường hàng năm có nhiều học sinh đỗ đại học và cao đẳng của tỉnh Nam Định.Trường liên tục đứng trong tốp của các trường có nhiều học sinh đỗ đại học cao trong cả nước.Năm 2009, 2010 tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng đạt 76,6% trường vẫn đứng trong tốp 200 trường có nhiều học sinh đỗ đại học trong cả nước.

Trong phong trào thi đua Hai tốt trường nhiều năm liền được công nhận đạt danh hiệu đơn vị tiên tiến xuất sắc và đã được đón nhận phần thưởng cao quí của Đảng và Nhà nước đó là Huân chương lao động hạng Ba, Huân chương lao động hạng Nhì .Các tổ chuyên môn liên tục được công nhận là tổ lao động xuất sắc, tổ Văn nhiều năm liền được công nhận tổ Lao động xã hội chủ nghĩa .Cô Hoàng Thị Thanh - Nguyên Hiệu trưởng nhà trường được tặng Huân chương lao động hạng Ba, nhiều thầy cô giáo đã được Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen đó là cô Hoàng Thị Thanh, cô Trần Thị Tân, Thầy Nguyễn Ngọc Đảng , thầy Nguyễn Văn Phiếu, thầy Hoàng Trọng Sâm có nhiều thầy cô đã được Bộ trưởng bộ Giáo dục - Đào tạo tặng bằng khen như cô Phạm Thị Thanh Hương, cô Nguyễn Thị Thuý, thầy Nguyễn Văn Thanh, thầy Nguyễn Văn Toàn… Rất nhiều thầy cô được công nhận là giáo viên giỏi cấp tỉnh, là chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh, cấp ngành.


Vinh dự tự hào đúng dịp kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, ngày 09 tháng 11 năm 2006 trường đã được Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định quyết định công nhận trường đạt “ Chuẩn Quốc gia bậc trung học phổ thông giai đoạn 2001 - 2010”. Đặc biệt là cũng đúng vào dịp 20 tháng 11 năm nay sau đó 5 năm trường lại vinh dự được đón nhận Bằng quyết định công nhận trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Trong niềm vui phấn khởi chào đón năm học mới – năm học 2010 – 2011, thầy và trò nhà trường tiếp tục phát huy thành tích đơn vị tiên tiến xuất sắc, quyết tâm đoàn kết, phấn đấu giữ vững danh hiệu trường chuẩn quốc gia bậc trung học phổ thông, phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương Xuân Trường và hướng tới kỷ niệm 50 năm thành lập trường (19-20/11/2011).
                
                                         Website: thpt-xuantruong-namdinh.edu.vn

Hình ảnh di tích lịch sử chùa Kim Sa Tự

Kim Sa Tự được biết đến với nhiều người khi các bạn về thăm Xuân Trường. là 1 ngôi chùa có lịch sử từ lâu định danh trên mảnh đất Xuân Đài giàu truyền thống văn hóa và cách mạng.

Chùa Kim Sa được nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hóa từ năm 1997 cho tới nay. Dù trải qua thăng trầm của thời gian nhưng những nét văn hóa đặc trưng của Kim Sa Tự luôn mang 1 nét cổ kính đặc biệt. Dưới đây là 1 số hình ảnh về Kim Sa Tự:



























Vương cung Thánh đường Phú Nhai

Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Phú Nhai (hay còn gọi là Vương cung thánh đường Phú Nhai) là tên gọi của một nhà thờ thuộc Giáo phận Bùi Chu ( Nam Định ). Nhà thờ Phú Nhai nằm ở trung tâm của xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, cách thị trấn Xuân Trường hơn 1km. Vương cung thánh đường Phú Nhai là một trong những ngôi nhà  thờ lớn tại Việt Nam và là nhà thờ đầu tiên của miền bắc được xếp hạng là Tiểu vương cung thánh đường ( tại Việt Nam có 3 nhà thờ được xếp hạng Tiểu Vương Cung thánh đường
Nhà thờ này đã được xây năm 1886, ngay sau khi vua Tự Đức ký sắc lệnh tha đạo, chấm dứt gần 3 thế kỷ Kitô giáo bị bách đạo tại Việt Nam.
Nhà thờ gốc có phong cách kiến trúc Gothic đậm dấu ấn Tây Ban Nha, sau được xây lại theo phong cách Gothic Pháp. Có kích thước: dài 80 mét, rộng 27 mét, cao 30 mét. Hai tháp chuông cao 44 mét đặt 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng là: 2.000 kg - 1.200 kg - 600 kg và 100 kg. Có ý kiến cho rằng vào thời điểm mới xây dựng, nhà thờ Phú Nhai được xem là lớn nhất Đông Dương. Ý kiến này hoàn toàn là sai lầm, vì chỉ cần nhà thờ Đức Bà Sai Gon xây trước nó 50 năm đã lớn hơn nhiều rồi. Kích thước nhà thờ Đức Bà Sai Gon: dài 93m, rộng 35m, chiều cao hai tháp chuông 60,5m. Còn nhiều nhà thờ khác lớn hơn nó vào thời điểm đó như nhà thờ Sở Kiện ở Hà Nam. Khi khách tham quan đứng trên ngọn tháp cao của nhà thờ sẽ được chiêm ngưỡng được toàn cảnh của Huyện Xuân Trường.
Sau nhiều biến cố lịch sử nhà thờ này được xây dựng lại. Và sau đây là một số hình ảnh về ngôi nhà thờ rộng lớn này..:











...
st by Trần Tuấn Anh

Đặc sắc Lễ hội Chùa Keo Hành Thiện

"Dù ai đi đâu về đâu/ Mười rằm tháng chín rủ nhau mà về/ Dù ai bận rộn trăm bề/ Mười lăm tháng chín nhớ về hội ông".

Câu ca dao xưa như một lời nhắn nhủ với người con quê hương Hành Thiện, xã Xuân Hồng (Xuân Trường) đang công tác, làm ăn, học tập ở khắp mọi miền đất nước cùng khách thập phương về dự lễ hội và tham quan, vãn cảnh chùa Keo Hành Thiện nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Thiền sư Không Lộ (15-9 âm lịch).


Chùa Keo Hành Thiện (tên chữ là Thần Quang Tự) thờ Thiền sư Không Lộ họ Dương, huý là Minh Nghiêm sinh ngày 14-9 năm Bính Thìn (1016) là vị tổ thứ 10 của thiền phái Vô Ngôn Thông và là tổ sư đời thứ 3 của thiền phái Thảo Đường Việt Nam. Tương truyền, ngài đã cùng Thiền sư Giác Hải và Thiền sư Từ Đạo Hạnh sang thiền Trúc ở Ấn Độ để cầu pháp Phật. Năm 1066, ngài và Thiền sư Giác Hải đã có công chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thánh Tông và được vua phong là Quốc sư. Tài năng của Thiền sư Không Lộ được lưu truyền trong dân gian ở nhiều lĩnh vực, là nhà thơ, thầy thuốc, đúc đồng, kiến trúc… Ngài mất vào ngày 3-6 năm Giáp Tuất 1094, thọ 79 tuổi và được nhiều địa phương thờ tự tưởng nhớ công lao, trong đó có làng Hành Thiện.

Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, không gian yên tĩnh. Chùa toạ lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng gần sông Hồng và sông Ninh Cơ. Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Gác chuông trước cửa chùa là kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm cao 7,5m gồm có 8 cột đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn, cảnh hoa sen mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Sau gác chuông là cụm kiến trúc trung tâm gồm tiền đường 5 gian, toà đệ nhị 3 gian, toà đệ nhất 3 gian thờ Phật và Thiền sư Không Lộ. Các nghệ nhân xây dựng chùa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy, kẻ của từng toà nhà. Ở 3 bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được chạm gỗ với đề tài khác nhau. Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền hai gian toà tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn thuỷ, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, nghê đội nóc đao… Đặc biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn, lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với những đường nét khắc hoạ tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong cách dân gian vùng châu thổ sông Hồng. Sau thờ Phật là đền Thánh thờ Thiền sư Không Lộ với 3 toà quy mô được cấu trúc theo kiểu "Thượng bò cuốn hạ kẻ bẩy và kẻ nội đấu truyền" với trạm khắc hoa văn công phu, tỷ mỷ. Cuối cùng là mười gian nhà Tổ và nhà oàn, nhà ký đồ với kiến trúc 3 gian và hai bên chùa là dãy hành lang gồm 80 gian khép kín càng tạo nên vẻ trang nghiêm, bề thế của tổng thể kiến trúc. Ngoài vẻ đẹp kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn những di vật có giá trị của thời Hậu Lê như án thư, sập thờ, tượng pháp, khánh, văn bia cổ, hoành phi, câu đối, cửa hãn…

Lễ hội chùa Keo Hành Thiện hàng năm thu hút rất đông khách thập phương bởi ý nghĩa tâm linh và các trò chơi dân gian độc đáo. Đồng chí Nguyễn Vũ Thịnh, Chủ tịch UBND xã Xuân Hồng, Trưởng Ban tổ chức lễ hội chùa Keo Hành Thiện năm 2010 cho biết, cũng như những năm trước, lễ hội năm nay diễn ra từ ngày mồng 10 đến 16-9 âm lịch, kỷ niệm 994 năm ngày sinh của Thiền sư Không Lộ. Điều đặc biệt, sau một thời gian trùng tu, tôn tạo với kinh phí đầu tư trên 10 tỷ đồng của Nhà nước đến nay đã hoàn thành giai đoạn I với việc tu sửa, giữ nguyên kiến trúc của gác chuông, chùa Phật, đền Thánh, nhà Tổ, đền Mẫu… càng khẳng định giá trị văn hoá, lịch sử, tâm linh của chùa Keo Hành Thiện. Là lễ hội truyền thống nên địa phương vẫn duy trì các nghi thức, các trò chơi dân gian. Cụ thể, lễ hội bắt đầu bằng chương trình rước kiệu truyền thống vào ngày 12-9 và ngày 15-9 âm lịch. Đây là lễ rước kiệu có quy mô lớn với sự tham gia của 160 trai tráng trong làng. Đi đầu là đoàn rước quốc kỳ do các CCB thực hiện, cờ lệnh ngũ hành sau đó là đoàn phù kiệu của hơn 1000 phật tử. Đoàn rước còn có rước kiệu rồng - một sản phẩm tinh xảo do nghệ nhân làng Hành Thiện làm ra. Trên kiệu có treo túi gấm, nón tu lờ, gậy trúc… gắn liền với truyền thuyết về tài đức của Thiền sư Không Lộ… Ở dưới hồ nước có thuyền rồng do 10 thiếu nhi đầu đội khăn đỏ, áo trắng nẹp đỏ chèo lái. Đêm 13-9 (âm lịch) sẽ có hàng trăm thiếu niên, nhi đồng của trường tiểu học A Xuân Hồng tham gia rước đèn từ đình làng lên chùa. Bên cạnh đó, là các trò chơi dân gian, các hoạt động văn hoá, văn nghệ như leo cầu ngô, thi đấu cờ tướng, tổ tôm điếm, biểu diễn Thái cực trường sinh đạo, đêm thơ hội làng và văn nghệ gồm các bài dân ca nhạc cổ ca ngợi quê hương, đất nước cũng được Ban tổ chức duy trì. Đặc sắc nhất trong lễ hội là giải bơi chải đứng với sự tham gia của cả 15 xóm trong làng tưởng nhớ lúc sinh thời của Đức Thánh Tổ Không Lộ làm nghề chài lưới diễn ra vào ngày 12 và 15 âm lịch. Mỗi chải có 10 người là trai tráng. Sau khi phát lệnh, các chải bơi biểu diễn, ra tới sông Ninh Cơ mới thi tài với nhau 3 vòng sông với chiều dài chặng đường 35-40km, thời gian khoảng trên 3 giờ đồng hồ. Ban tổ chức cũng đã ban hành quy chế giải bơi chải, phần thưởng là tiền và bánh dày để động viên người dân tham gia. Trong Lễ hội chùa Keo Hành Thiện năm nay, Ban tổ chức còn xây dựng tiết mục múa rối cạn với những hình ảnh rất sinh động như cô tiên, 6 đầu rối… Cũng trong lễ hội chùa Keo Hành Thiện, cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể xã Xuân Hồng, làng Hành Thiện tổ chức dâng hương tưởng niệm công ơn Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, người con ưu tú của quê hương. Để chuẩn bị cho lễ hội, Ban tổ chức đã phối hợp với Phòng VH-TT-TT, Phòng Nội vụ, Công an, Y tế huyện Xuân Trường thực hiện tốt các quy định của Bộ VH-TT-DL, Quyết định 681 của UBND tỉnh về quy chế mở lễ hội truyền thống để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, bảo đảm vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh cho nhân dân địa phương và khách thập phương trước, trong và sau lễ hội./
 

Copyright © 2010 Quê Hương Xuân Trường - Huyện Xuân Trường - Tỉnh Nam Định

Nguồn : Quê Hương Xuân Trường - Huyện Xuân Trường - Tỉnh Nam Định được tổng hợp trên Internet. Thiết kế Phan Tới